Blog Page 141

Phản hồi từ khách hàng: Kẻ to mồm chưa hẳn đại diện cho số đông

0

Vấn đề của các công ty hiện nay là họ rất dễ nhầm lẫn ý kiến phản hồi của những kẻ bạo miệng là đại diện cho số đông khách hàng, dẫn tới việc thay đổi chiến lược thương hiệu theo đó và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

phân loại khách hàng để quản lý và đáp ứng nhu cầu
phân biệt các phản hồi từ khách hàng để dễ quản lý

Hiện nay nhiều công ty và thương hiệu đang bị cuốn vào xu hướng theo dõi hay tham gia các mạng xã hội. Điều này vừa mang lại những ưu điểm và nhược điểm trong việc lắng nghe những phản hồi từ khách hàng của họ.

Ưu điểm là các thương hiệu có thể đón nhận được nhiều ý kiến đánh giá khách quan và đa chiều hơn, tuy nhiên họ lại phải đối mặt những người mạnh miệng luôn tự cho mình là đúng.

Trong trường hợp này, các công ty phải nhận thức được rằng, những kẻ to mồm nhất chưa chắc đã phản ánh quan điểm của số đông. Do đó, phải luôn giữ vững lập trường và đừng để bị lung lay bởi những phản hồi này.

Hầu hết các công ty đều sở hữu những phát ngôn viên đại diện cho nhãn hàng để quản lý trang web và các mạng xã hội chính thức. Cho dù đó là trên Twitter, Facebook, hay Instagram, bất cứ lúc nào cũng có thể nhận được những ý kiến đánh giá trái chiều.

Vấn đề của các công ty hiện nay là họ rất dễ nhầm lẫn ý kiến của những kẻ bạo miệng là đại diện cho số đông khách hàng, dẫn tới việc thay đổi chiến lược thương hiệu theo đó và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Ví dụ, có những người chỉ theo dõi một số thông tin phản hồi trực tuyến nhưng lại dám khẳng định “tất cả các khách hàng đều có ý kiến như vậy”. Đối với những công ty nhẹ dạ cả tin, họ liền thay đổi theo mong muốn của khách hàng để rồi bị sốc khi phát hiện ra kết quả thực tế thật tồi tệ mà không hề hay biết rằng mình đã rơi vào bẫy.

Chính vì vậy, khi lắng nghe và tiếp nhận phản hồi của khách hàng, các thương hiệu nên thận trọng để phân biệt đâu là các đánh giá thật sự, đâu là những kẻ to mồm muốn dìm hàng nhãn hiệu để tìm cách giải quyết hợp lý.

Sau đây là những điều cần ghi nhớ khi bắt gặp phản hồi từ khách hàng là những vị khách thích chém gió để không bị lung lay bởi lời nói của họ:

– Việc một số khách hàng luôn gửi cho bạn những lời feedback kĩ càng, tỉ mẩn và dài lê thê không có nghĩa rằng họ đại diện cho suy nghĩ của số đông người tiêu dùng, điều này chỉ cho thấy họ là những người thích thể hiện mà thôi.

– Nhiều người trong các diễn đàn tuy khiếu nại thì nhiều nhưng thực tế sức mua rất ít, nên không việc gì phải quan tâm đến họ, còn rất nhiều khách hàng khác đang chờ bạn ngoài kia cơ mà.

– Con người thường thích chê bai hơn khen ngợi và luôn tìm mọi cách để bới lông tìm vết lỗi lầm của các thương hiệu để dìm hàng. Do đó, nếu chỉ có một số ít khách hàng phàn nàn nhiều lần trên các diễn đàn trực tuyến hay mạng xã hội, bạn chỉ nên phản hồi một lần và không nên để tâm quá nhiều.

– Khách hàng nói chung thường có xu hướng không đọc những ý kiến đánh giá của các chuyên gia vì sợ đau đầu, tuy nhiên một số người chưa đọc nhưng lại thích phán bừa. Do đó, bạn nên biết cách chọn lọc xem đâu là những đánh giá đến từ những người đã thực sự sử dụng sản phẩm. Chỉ những ý kiến mới đáng để bạn phân tích và cân nhắc.

Như đã đề cập ở trên, các thương hiệu muốn thành công phải phân biệt được đâu là ý kiến đại diện cho số đông hay chỉ là những đánh giá chủ quan.

Để ý những nhóm người hay phàn nàn là một cách rất hay để chọn lọc được các thông tin phản hồi. Đây là những người thích chê bai và bôi xấu thương hiệu, hoặc do đối thủ giật dây. Để đối phó với nhóm này, cách tốt nhất là làm cho các khách hàng thân thiết tránh xa họ qua những thông điệp kêu gọi từ chính nhãn hàng. Nếu chê mà không có ai nghe, tự khắc họ sẽ chấm dứt việc phàn nàn.

Tiếp cận với nhiều khách hàng sẽ giúp bạn có được sự phản hồi trên diện rộng và khách quan hơn. Hầu hết người tiêu dùng hiện nay khá cởi mở trong việc cho ý kiến đánh giá về sản phẩm hay dịch vụ mà họ sử dụng, vì vậy nếu chưa biết hoặc chưa hiểu, hãy hỏi họ một cách thẳng thắn.

Ngoài ra, các thương hiệu cũng không nên bỏ qua những ý kiến của các khách hàng thuộc phần thiểu số còn lại. Đôi khi những phát hiện của họ sẽ giúp bạn cải thiện được tốt nhất chất lượng sản phẩm của mình.

Trong phát triển kinh doanh, việc lắng nghe và tiếp nhận ý kiến từ khách hàng là một trong những bước cần thiết nhất để duy trì thương hiệu. Tuy nhiên, không phải ai cũng là những người bạn nên tiếp thu. So với việc đón nhận phản hồi, phân loại chúng còn quan trọng hơn rất nhiều.

Biến phản hồi của khách hàng thành tiền như thế nào?

0
Anh Nguyễn Thành Nam sẽ điều phối phần tọa đàm Chungta.vn trong thời kỳ mới.
Anh Nguyễn Thành Nam sẽ điều phối phần tọa đàm Chungta.vn trong thời kỳ mới.

Đảm bảo rằng bạn biết cách tận dụng hiệu quả từ thông tin phản hồi tốt sẽ giúp bạn lấy lòng khách hàng một cách dễ dàng.

Thu thập thông tin phản hồi của khách hàng là một cách tuyệt vời giúp cho các doanh nghiệp xác định cả  điểm mạnh và điểm yếu của sản phẩm hay dịch vụ. Các thông tin phản hồi nhận được có thể giúp xây dựng chương trình đào tạo cũng như chiến lược phát triển sản phẩm trong tương lai.

Hiểu được cách thức sử dụng phù hợp thông tin phản hồi rất quan trọng, cho dù những phản hồi là tích cực hay tiêu cực. Khi các công ty có uy tín nhận được phản hồi tiêu cực, họ thường có động thái thực hiện những bước tiến lớn để bảo toàn danh tiếng và khách hàng trung thành bằng cách giải quyết vấn đề.

Tuy nhiên khi công ty nhận được phản hồi tích cực, đôi khi họ không nhìn thấy cơ hội tận dụng nó và bỏ lỡ cơ hội xây dựng mối quan hệ với khách hàng mới. Phản hồi tích cực là một tài sản vô giá bất kì doanh nghiệp nào cũng không nên bỏ qua.

Đảm bảo rằng bạn biết cách tận dụng hiệu quả từ thông tin phản hồi tốt sẽ giúp bạn lấy lòng khách hàng một cách dễ dàng. Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích cho bạn:

Làm thế nào để thu thập thông tin phản hồi tích cực cụ thể hơn?

Một số hình thức phản hồi, chẳng hạn như đánh giá trực tuyến, có thể lấy được khá dễ dàng. Các ý kiến ​​tích cực phần nào có ích, nhưng chúng có xu hướng ngắn gọn. Thu thập được những phản hồi loại này là rất tốt, nhưng loại phản hồi tích cực đặc biệt hữu ích xét từ góc nhìn marketing sản phẩm thì lại yêu cầu bỏ nhiều công sức hơn để thu thập.

Biến phản hồi của khách hàng thành tiền như thế nào? Nếu bạn không thử, bạn sẽ không bao giờ biết được bạn có thể làm được những gì?
Biến phản hồi của khách hàng thành tiền như thế nào? Nếu bạn không thử, bạn sẽ không bao giờ biết được bạn có thể làm được những gì?

Dưới đây là ba chiến lược gợi ý để cải thiện chất lượng và chiều sâu của các phản hồi từ khách hàng:

Xây dựng các câu hỏi khảo sát có chiều sâu nghiên cứu. Mục đích khảo sát khách hàng là để thu thập thông tin cần thiết. Hỏi cả hai loại câu hỏi: đánh giá theo định hướng và kết thúc mở, mà cụ thể là tập trung vào lý do tại sao các cá nhân chọn sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn.

Câu hỏi trắc nghiệm hoặc các hệ thống đánh giá định lượng có thể giúp xác định dễ dàng  hơn, nhưng chỉ phản ánh những giả định của bạn, trong khi “phản hồi tự do” có thể cung cấp những đánh giá đáng ngạc nhiên mà bạn có thể không nghĩ đến. Tốt nhất, bạn nên tận dụng cả dữ liệu định lượng – như bao nhiêu khách hàng muốn giới thiệu bạn , và dữ liệu chủ quan – như các vấn đề cụ thể mà khách hàng tìm kiếm ở bạn và làm thế nào bạn giải quyết chúng.

Mời khách hàng nói về kinh nghiệm của họ. Mọi người thường thích kể chuyện về mình, và trò chuyện với khách hàng của bạn – có thể quay phim hoặc ghi âm lại để xem xét sau – sẽ cho phép bạn khám phá những chi tiết bất ngờ, mới mẻ. Xem xét các câu chuyện được thổ lộ giống như khách hàng nói về kinh nghiệm của họ với sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn. (Bạn có thể lưu ý các phản ứng tinh tế mà khách hàng bộc lộ). Các công ty lớn có xu hướng đầu tư mạnh vào các nhóm khách hàng tập trung bởi vì họ chắc chắn sẽ tìm ra thông tin mới về lý do tại sao người tiêu dùng chọn họ; và cách khách hàng sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ ảnh hưởng đến cách thức công ty tiếp thị sản phẩm của mình, cũng như những thay đổi hoặc cải tiến cần thiết cho các sản phẩm trong tương lai.

Xác định điều gì làm “lóa mắt” khách hàng. Khi biết rõ ràng là một khách hàng đã có trải nghiệm thú vị, xác định các yếu tố cụ thể làm hài lòng họ. Ví dụ, nếu một khách hàng cho biết họ rất thích bữa ăn, hãy hỏi cụ thể họ thích cái gì, đó là đồ ăn hay không khí của nhà hàng hoặc sự nhiệt tình của nhân viên. Hỏi các loại câu hỏi theo dõi này sẽ giúp bạn xác định những khía cạnh giúp doanh nghiệp của bạn nổi bật so với những người khác.

Tận dụng thông tin phản hồi để tăng doanh thu

Khi bạn đã nhận được phản hồi tích cực một cách chi tiết, bước tiếp theo là đưa những ý kiến ​​vào hành động của công ty. Nỗ lực này không chỉ đơn giản là tăng cường trang web với đánh giá từ khách hàng hài lòng, mục tiêu chính yếu là chọn lọc thông điệp của bạn cũng như sản phẩm hoặc dịch vụ bạn có thể cung cấp qua câu chuyện của khách hàng.

Biên soạn thông tin phản hồi để có cái nhìn toàn cảnh. Đánh giá kết quả khảo sát của bạn và làm nổi bật số liệu thống kê sẽ hấp dẫn kết nối khách hàng. Ví dụ, chia sẻ thực tế rằng 95% khách hàng của bạn giới thiệu hàng thịt nướng của bạn cho bạn bè cho thấy rất ít người không hài lòng với sản phẩm của bạn.

Hơn nữa, nên đưa thêm vào một số thông tin cụ thể và chi tiết trích dẫn lý do mà khách hàng thích món thịt nướng; điều này sẽ làm tăng khả năng kích thích những người khác thử nếm sản phẩm. Một câu nói như, “Món sườn đậm đà, thịt rất mềm và thơm” tạo ra ấn tượng hơn nhiều so với câu, “Nơi này rất tuyệt”. Phản hồi của khách hàng càng cụ thể càng có khả năng thuyết phục cao và tạo được dấu ấn với khách hàng tiềm năng.

Điều chỉnh dịch vụ của bạn. Hầu như mọi khách hàng đều ưu thích các dịch vụ được cá nhân hóa theo nhu cầu cụ thể của họ. Nếu không có các phản hồi chi tiết, chúng ta có thể tập trung vào việc cải tiến sản phẩm hoàn toàn không liên quan tới thị hiếu hoặc sở thích của khách hàng.

Hãy kể chuyện. Nhiều người thích kể chuyện nhưng cũng thích nghe chuyện do người khác kể. Tuy vậy, những câu chuyện sẽ chỉ mang lại hiệu quả nếu chúng có chiều sâu. Ví dụ, đánh giá khách sạn chỉ với một câu duy nhất “Chúng tôi đã có một kỳ nghỉ tuyệt vời!” hầu như không có hiệu quả. Hãy cố gắng thu thập câu chuyện đằng sau khi biên soạn những chứng thực giúp người đọc liên hệ đến kinh nghiệm của khách hàng trước. Có thể là một khách sạn được lựa chọn cho tuần trăng mật, vị trí và các tiện nghi của khách sạn đã chinh phục được đôi vợ chồng mới cưới và mang lại những trải nghiệm cảm xúc khó quên cho cô dâu chú rể. Cảm xúc trong câu chuyện của khách hàng bạn đang có thu hút sự chú ý của khách hàng tiềm năng hơn là một câu kết luận đơn giản: “Chúng tôi đã có kỳ nghỉ tuyệt vời”. Video là cách đặc biệt hấp dẫn để kể những câu chuyện vì chúng thường chi tiết và việc quan sát khách hàng thực tế có thể giúp kết nối cảm xúc với khách hàng tiềm năng.

Tận dụng xác thực từ cộng đồng. Nếu bạn nhận được đánh giá tích cực từ một nguồn khách quan, hay một giải thưởng do cộng đồng bình chọn, hãy sử dụng nó. Khách hàng thường có xu hướng tìm kiếm xác nhận của bên thứ ba khách quan để chứng minh họ có thể tin tưởng bạn, vì vậy xây dựng uy tín của mình bằng cách lấy được xác nhận từ các chuyên gia. Để phát triển trong một thị trường cạnh tranh, bạn phải hiểu và làm nổi bật những điểm mạnh của công ty. Một phương pháp quan trọng để hiểu rõ hơn điểm mạnh là lắng nghe khách hàng và sử dụng thông tin bạn nghe được để tăng cường chiến lược kinh doanh và thông điệp tiếp thị. Khi làm như vậy, bạn sẽ tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp của mình để thu hút khách hàng mới và tiếp tục phát triển.

10 khác biệt lớn giữa “Khởi nghiệp” và “Doanh nghiệp nhỏ”

1
Hand pointing at a Entrepreneur word illustration on blue background.

1. Tính đột phá (Innovation): Bạn tạo ra một điều hoàn toán mới lạ?

* DN nhỏ: sẽ có vô số ví dụ về những doanh nhân đã và đang làm cùng mô hình kinh doanh giống bạn. Ví dụ: nhà hàng, văn phòng Luật sư, tiệm hớt tóc. Bạn thậm chí có thể nhắc tới kinh nghiệm của họ làm nền tảng cho ý tưởng kinh doanh của bạn.

* Khởi nghiệp (startup): Tính đột phá là điều bắt buộc. Là một startup, bạn có thể tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn. Ví dụ, bạn có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản xuất (như thiết bị thông minh đo lường sức khoẻ cá nhân), một mô hình kinh doanh hoàn toàn mới (như AirBnb), hoặc một loại công nghệ độc đáo, chưa hề thấy (như công nghệ in 3D).

2. Tính tăng trưởng: Công ty của bạn có thể tăng trưởng đến mức nào?

* DN nhỏ: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMB) sẽ được vận hành trong một phạm vi nhất định được giới hạn bởi người sáng lập. Nói cách khác, bản thân người chủ doanh nghiệp sẽ chủ động giới hạn sự tăng trưởng và tập trung phục vụ một phân khúc khách hàng nhất định.

* Startup: Một công ty khởi nghiệp (Startup) sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, và họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể. Họ tạo ra sự ảnh hưởng cực lớn, có thể được xem là người khai phá thị trường

3. Tốc độ Tăng trưởng: Công ty của bạn có thể tăng trưởng nhanh đến mức nào?

* DN nhỏ: Dĩ nhiên, bạn sẽ muốn doanh nghiệp của mình phát triển càng nhanh càng tốt, nhưng điều quan tâm đầu tiên của bạn sẽ là tạo ra lợi nhuận. Một khi đạt được điều này, bạn mới nghĩ đến việc mở rộng doanh nghiệp.

* Startup: Bạn sẽ đam mê tăng trưởng công ty càng nhanh càng tốt, và tạo ra một mô hình kinh doanh có tính tăng trưởng. Bạn sẽ muốn nhân bản mô hình kinh doanh thành công của mình ra khắp thế giới.

4. Lợi nhuận: Bạn cần thời gian bao lâu để tạo ra lợi nhuận, và giá trị lợi nhuận như thế nào?

* DN nhỏ: Người sáng lập sẽ muốn có doanh thu từ ngay ngày đầu tiên doanh nghiệp đi vào hoạt động, và tốt hơn nữa là có luôn lợi nhuận. Giá trị lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào số tiền mà bản thân người sáng lập muốn kiếm được (cho chính bản thân họ), cũng như sẽ phụ thuộc vào kế hoạch mở rộng doanh nghiệp.

* Startup: Có thể cần đến nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để có được doanh thu (dù rất nhỏ). Bạn sẽ tập trung vào phát triển một sản phẩm thật sự hữu ích cho người dùng, nhằm có được một lượng khách hàng đông đảo. Nếu kế hoạch thành công, lợi nhuận tài chính có thể rất khổng lồ. (Uber hiện được định giá tầm năm mươi tỉ đôla Mỹ)

5. Tài chính: Bạn cần chuẩn bị vốn như thế nào?

* DN nhỏ: Khi khởi đầu, ngoài tiền túi của mình, bạn sẽ cần dựa vào đóng góp từ gia đình, bạn bè, vay ngân hàng, hoặc vốn góp từ nhà đầu tư. Tuy nhiên, vì mục tiêu là “sống sót”, bạn sẽ phải quản lý chặt chẽ số tiền mình đang vay, nên nhớ là số tiền này sẽ phải được hoàn trả cùng với lãi suất.

* Startup: Nhiều startups bắt đầu từ chính tiền túi của người sáng lập, hoặc đóng góp từ gia đình và bạn bè. Một số trường hợp thì gọi vốn từ cộng đồng (crowdfunding). Tuy nhiên, phần lớn các startup đều phải gọn vốn từ các Nhà đầu tư thiên thần (angel investors) và Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital).

Là một startup, bạn sẽ phải hi vọng tăng trưởng cực nhanh và cần một lượng vốn đủ mạnh để đạt được tham vọng này. Sẽ cần một thời gian dài để bạn có thể tạo ra doanh thu và có lợi nhuận. Cũng nên nhớ rằng những nhà đầu tư cho startup sẽ trông đợi nguồn lợi nhuận khổng lồ, do đó sẽ có những áp lực bắt buộc cho những nhà sáng lập. (Cũng cần lưu ý rằng có nhiều ý kiến cho rằng startup không phải lúc nào cũng cần dựa vào các Quỹ đầu tư)

6. Công nghệ: Bạn có cần áp dụng công nghệ

* DN nhỏ: Không bắt buộc, nhưng sẽ có nhiều công cụ kĩ thuật giúp ích cho việc điều hành công ty (như kế toán, marketing..).

* Startup: Công nghệ thường là đặc tính tiêu biểu của sản phẩm từ một startup. Dù vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều vào công nghệ, thì startup cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như tham vọng tăng trưởng.

7. Vòng đời Công ty: Công ty của bạn có thể tồn tại trong bao lâu?

* DN nhỏ:  32% sẽ thất bại trong ba năm đầu. Tuy nhiên, tỉ lệ này vẫn còn nhiều tích cực so với startup.

* Startup: 92% các startups sẽ thất bại trong ba năm đầu (thật đáng tiếc, đây lại là sự thật)

8. Kĩ năng Lãnh đạo: Bạn sẽ phải quản lý bao nhiêu nhân sự

* DN nhỏ: Số lượng nhân viên bạn phải quản lý phụ thuộc vào kế hoạch vận hành bạn đã hoạch định từ trước.

* Startup: Bởi vì bạn mong muốn phát triển càng to lớn càng tốt, càng nhanh càng tốt, bạn sẽ cần phải liên tục phát triển kĩ năng lãnh đạo và kĩ năng quản lý. Cùng với sự tăng trưởng của startup, bạn cần phải có sự quản lý hiệu quả với một số lượng “thành viên mới”: nhân viên, nhà đầu tư, ban cố vấn, và các đối tác khác.

9. Cuộc sống cá nhân: Bạn sẽ cân bằng giữa khởi nghiệp và cuộc sống cá nhân ra sao?

* DN nhỏ: Nếu so sánh với startup, mức độ rủi ro sẽ thấp hơn nhiều. Lợi thế này có thể giúp bạn có được sự cân bằng giữa công việc kinh doanh và cuộc sống cá nhân. Tuy nhiên, vì công ty là của bạn, hãy luôn sẵn sàng chào đón những thử thách mà bạn sẽ không thể tìm thấy ở “công việc 9-5″. Sẽ luôn khó khăn và thử thách, nhưng cũng sẽ có đầy hi vọng bạn có thể cân bằng một cách phù hợp với bạn

* Startup: Nếu bạn nhận được vốn từ các nhà đầu tư , bạn sẽ có trách nhiệm giúp công ty tăng trường đến một thời điểm nhà đầu tư có thể tối đa hoá mức độ lợi nhuận. Hãy luôn nhớ rằng sẽ có vô số người trông đợi vào bạn, vào sản phẩm của bạn, vào thành công của bạn. Cân bằng giữa công việc và cuộc sống riêng có thể khái quát nôm na như: Công việc, công việc, công việc, và cuộc sống.

10. Tham vọng: Bạn có thể rời bỏ để theo đuổi dự án mới?

* DN nhỏ: Mục tiêu của bạn có thể là truyền lại công ty cho các thế hệ sau trong gia đình hoặc cũng có thể bán lại cho một tập đoàn khổng lồ.

* Startup: Tham vọng của bạn là một con đường thoái vốn khổng lồ như chào bán cổ phiếu ra công chúng (IPO).

Đọc đến đây, có thể bạn tự hỏi liệu Startup có thể trở thành Small Business hoặc ngược lại. Có, hoàn toàn có thể, nó có thể phụ thuộc vào chính bản thân bạn (như thay đổi kế hoạch, tầm nhìn hay sứ mệnh), hoặc đôi khi phụ thuộc vào yếu tố khách quan như thị trường thay đổi, nhu cầu khách hàng.

Tôi tin rằng thấu hiểu sự khác biệt giữa Khởi nghiệp (Startup) và Doanh nghiệp nhỏ (Small Business), và nhận biết điểm mạnh cá nhân của chính bạn là những yếu tố hết sức quan trọng để có thể đến được đích đến mơ ước.

Toạ đàm: “Làm ăn gì năm 2016?”

0
Toạ đàm: “Làm ăn gì năm 2016?”
Toạ đàm: “Làm ăn gì năm 2016?”

Để cùng bạn đọc nhìn lại kinh tế Việt Nam trong năm 2015, từ đó đưa ra những nhận định và dự báo cho năm 2016, hướng tới những cơ hội kinh doanh khả thi cho cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư, BizLIVE tổ chức cuộc tọa đàm trực tuyến BizTALK: “Làm ăn gì năm 2016?”, diễn ra từ 9h00 – 16h30 thứ Bảy, ngày 12/12/2015, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế FLC (Sầm Sơn, Thanh Hoá).

Toạ đàm: “Làm ăn gì năm 2016?”
Toạ đàm: “Làm ăn gì năm 2016?”

Tại đây, các chuyên gia kinh tế uy tín cùng các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước… sẽ đánh giá các chỉ số kinh tế vĩ mô năm 2015 và đưa ra các dự báo cho năm 2016.

Cuộc tọa đàm cũng có sự tham gia của khách mời là đại diện các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực như bất động sản, tài chính ngân hàng, chứng khoán, sản xuất – kinh doanh…
Đại diện Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại, chuyên gia tài chính ngân hàng sẽ đánh giá việc điều hành tỷ giá, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng năm 2015 và chia sẻ những mục tiêu năm 2016.
Về lĩnh vực bất động sản, các vấn đề như “Liệu có hay không việc bất động sản đã phục hồi và tăng trưởng trở lại?”, “Liệu có tiếp tục xảy ra tình trạng bong bóng bất động sản?”, “Giá bất động sản đã ở mức giá thực… sẽ được đề cập và phân tích cụ thể.
Về lĩnh vực chứng khoán, đại diện Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cùng các chuyên gia đến từ những công ty chứng khoán uy tín sẽ đánh giá những chính sách ảnh hưởng đến chứng khoán năm qua, nhìn nhận yếu tố tâm lý nhà đầu tư với diễn biến thị trường, đồng thời chia sẻ dự báo về thị trường chứng khoán năm 2016.
Cuộc toạ đàm còn có sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực dệt may, dược phẩm, bán lẻ…, các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, ôtô.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, những cơ hội, thách thức trong bối cảnh Việt Nam ký kết hàng loạt hiệp định thương mại với các đối tác lớn sẽ được bàn thảo chi tiết.

Nội dung BizTALK “Làm ăn gì năm 2016?” cùng các chủ đề liên quan sẽ được tường thuật chi tiết trên BizLIVE, với sự tham dự của các diễn giả, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp:

– Ông Bùi Huy Thọ, Vụ trưởng Vụ quản lý và cấp phép các tổ chức tín dụng, Cơ quan thanh tra giám sát NHNN

– Ông Nguyễn Đức Long, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước

– Ông Trần Văn Tần, Trưởng phòng Tín dụng nông nghiệp nông thôn – Vụ tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước

– GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE)

– TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên Hội đồng Chuyên gia BizLIVE

– TS. Nguyễn Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài VAFIE

– TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính

– Ông Huỳnh Thế Du, Giám đốc Đào tạo Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

– PGS.TS. Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá (Bộ Tài chính)

– TS.LS Hương Trần Kiều Dung, Tổng giám đốc Tập đoàn FLC

– Bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Traphaco

– TS. Lê Xuân Thảo, Chủ tịch HĐQT Invenco

– Ông Mạc Quang Huy, Tổng giám đốc CTCK Maritime

– Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc Chiến lược Đầu tư CTCK Maritime

– Ông Lê Tiến Đông, Phó tổng giám đốc CTCK Artex

– Ông Phí Ngọc Trịnh, Phó tổng giám đốc CTCP May Hồ Gươm

CEO Vinalink: Mong các doanh nghiệp đừng chỉ nghĩ đến tốt cho riêng mình!

0
CEO Vinalink Hà Anh Tuấn
CEO Vinalink Hà Anh Tuấn

CEO Vinalink Hà Anh Tuấn mong các doanh nghiệp trong ngành Digital marketing luôn nghĩ cách mở rộng ảnh hưởng của ngành cũng như giao lưu nhiều hơn để giúp nhau cùng tiến bộ thay vì vẫn cứ cát cứ như hiện nay.

CEO Vinalink Hà Anh Tuấn
CEO Vinalink Hà Anh Tuấn

Hà Anh Tuấn hiện đang là CEO Vinalink Media JSC, Chủ tịch CLB SEO Việt Nam, Người đầu tiên đưa SEO vào Việt Nam (Từ năm 2001 -2003). Đồng thời là giảng viên CFVG về Marketing, Phó chủ tịch – đồng sáng lập VMCC.

– Ngày sinh: 1973
– Cung hoàng đạo: Song Ngư
– Chức danh và tên công ty: CEO Vinalink
– Số năm khởi nghiệp: 15
– Màu sắc ưa thích: Xanh lục pha đỏ
– Món ăn ưa thích: Salad trộn các loại
– Điểm du lịch ưa thích: Cửu Trại Câu
– Thú giải trí ưa thích: Hát Karaoke
– Cuốn sách đang đọc: Khác biệt từ khuôn mẫu
– Bộ phim ưa thích gần nhất đã xem: Mê Cung
———-
Được biết anh từng bỏ việc công chức ra ngoài lập nghiệp, điều gì lúc đó đã thúc đẩy anh quyết định này?
Khi cống hiến không được thỏa chí do bị bó hẹp nên tôi đã quyết định rời công chức.
Điều gì là thú vị nhất anh thấy khi khởi nghiệp?
Khám phá cách mà người ta có thể tổ chức và quản lý kinh doanh để ra hiệu quả kinh tế, đó là điều hấp dẫn tôi.
Anh nghĩ sao về mối quan hệ giữa doanh nhân và mạng xã hội hiện nay?
Mạng xã hội là xu thế tất yếu của thời đại mới, không một doanh nhân nào có thể nằm ngoài xu thế này, chỉ có thể là sự tác động đó ít hay nhiều mà thôi.
Tận dụng tốt mạng xã hội sẽ giúp cho doanh nhân có thể phát triển thương hiệu cá nhân hay phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên cái gì cũng luôn có hai mặt của nó, đây cũng là những cản trở cho doanh nghiệp bởi những thứ khác cuốn hút hay những thông tin chưa thực sự sát với lợi ích doanh nghiệp và nhiều khi còn làm ảnh hưởng đến năng suất lao động hay uy tín doanh nghiệp.
Muốn áp dụng tốt nên thực sự có chiến lược bài bản và cẩn trọng khi ứng dụng nó trong quan hệ công việc.
Nếu có một điều ước ngay lúc này, anh mong ước điều gì sẽ trở thành hiện thực?
Ước những người trong ngành Digital marketing dù là đang làm cho doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp Việt Nam luôn nghĩ cách mở rộng ảnh hưởng của ngành cũng như giao lưu nhiều hơn để giúp nhau cùng tiến bộ thay vì vẫn cứ cát cứ như hiện nay.
Vì sao anh lại ước như vậy?
Vì hiện nay mặc dù rất cố gắng kết nối bằng một loạt các hoạt động sinh hoạt cộng đồng trong lành nhưng nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong ngành vẫn chỉ nghĩ đến việc làm tốt cho mình là đủ mà không tạo ra những tiếng nói hay sự cộng hưởng để giúp ngành thêm đoàn kết và phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Việc này giúp ích nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng tốt hơn với độ phủ rộng hơn như hiện nay vẫn có khoảng cách áp dụng của doanh nghiệp Việt Nam và các các doanh nghiệp nước ngoài.

 

Content Marketing là cái chi chi

0
Content Marketing là cái chi chi
Content Marketing là cái chi chi

Nhân bạn Linh Mạnh Nguyễn đặt một câu hỏi rất chi là oái oăm: content marketing khác truyền thông ở chỗ nào, và chiến lược content marketing khác chiến lược truyền thông ra sao, xét thấy trả lời trong một cái còm không đủ, bèn viết cho trọn một cái note vậy.

Thứ nhất, nếu dùng thuật ngữ TRUYỀN THÔNG (communication), thì dứt khoát không đồng nghĩa với public relations (PR) nhé. Lúc này, TRUYỀN THÔNG – communication sẽ bao hàm rất rộng, trong đó sẽ liên quan đến nhiều phương tiện truyền thông, từ báo chí (media) đến các phương tiện truyền tải thông tin khác, từ bảng quảng cáo ngoài trời, trên hông xe bus, loa phường,… đến đoàn người diễu hành hay điện thoại di động. Vì vậy, CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG lúc này sẽ bao hàm chiến lược sử dụng một hoặc nhiều kênh truyền thông để chuyển tải thông điệp, mà tuỳ theo mục đích và cả khả năng rủng rỉnh tiền bạc, dân lập kế hoạch chiến lược áp dụng hoạt động Above the Line (ATL), Below the Line (BTL) hay PR. Thứ hai, TRUYỀN THÔNG cũng là “media” (vẫn được dạy rằng tiếng Việt phong phú lắm, nhưng té ra là 2 từ tiếng Anh khác nhau mà dịch ra tiếng Việt giống nhau). Trong trường hợp này thì CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG chỉ hàm ý là một “media strategy”, và nó cũng chả đồng nghĩa với public relations tẹo nào. Media strategy thì cũng có thể là một chiến lược sử dụng các phương tiện truyền thông (thường là báo chí) để truyền tải thông điệp, tức là có khi đơn thuần là quảng cáo (media buying) trong hoạt động Above the Line, hoặc là một chiến dịch quan hệ báo chí (media relations) trong public relations.

Content Marketing là cái chi chi
Content Marketing là cái chi chi

Lâu nay, một bộ phận lớn trong chúng ta vẫn nghĩ rằng public relations – PR (mà người ta dịch một cách thô lỗ là quan hệ công chúng), là dùng content – nội dung để quảng bá. Vì vậy, có đến quá nửa các doanh nghiệp và cả những người tự gọi mình là PR practitioner hì hụi viết bài quảng cáo advertorial và gọi đó là “bài PR”. Nhưng không hẳn thế, vì PR rộng hơn nhiều so với media relations, càng không bao giờ đơn giản như việc ngồi nghĩ ra một cái bài báo cho thật hay ho và tìm cách lobby hoặc mua chỗ đăng lên báo chí. Mục tiêu cốt lõi của PR là làm cho công chúng hiểu đúng nhất và tích cực về doanh nghiệp hoặc tổ chức/cá nhân, nên chưa chắc nhất thiết phải “đẻ” ra nội dung nào đó để đăng báo, mà có khi chỉ cần tạo cơ hội cho báo chí “nhìn” rõ mình là đủ.

Thứ ba, bàn về CONTENT. Với cách đặt vấn đề ở trên thì rõ ràng là CONTENT không đồng nhất với truyền thông rồi, hoặc ít ra thì việc sử dụng content chỉ là một phần trong công cụ media relations mà thôi. Content, trong media relations, cho dù là một bài báo ca ngợi ngút trời đi chăng nữa, không trực tiếp gia tăng doanh số bán hàng cho các thương hiệu, mà là củng cố uy tín, hình ảnh của thương hiệu, làm cho công chúng yêu quý thương hiệu đó hơn.

Vậy, CONTENT MARKETING là gì? Dứt khoát đó là một khái niệm hiện đại, và hoàn toàn không có nghĩa là tạo ra “nội dung” để quảng bá cho thương hiệu. Đó là giải pháp cung cấp nội dung, hầu hết là loại nội dung khách quan, hữu ích và phi quảng cáo, để thu hút người tiêu dùng, từ đó sẽ lồng các thông điệp quảng cáo cho thương hiệu một cách khéo léo, từ từ gây ảnh hưởng lên người tiêu dùng. Ví dụ, một thời, Unilever đầu tư cho chương trình “Sức sống mới” trên VTV1, cùng với website cùng tên, như là chương trình tư vấn độc lập, khách quan cho người nội trợ, để rồi đan xen hình ảnh các thương hiệu của họ vào một cách khéo léo.

MegaMedia xây dựng một chương trình dành cho tài xế xe tải trên sóng VOH (Đài tiếng nói TP.HCM), và nhồi thương hiệu dầu nhớt Shell vào đó. Tạp chí Đẹp xây dựng chương trình truyền hình thực tế “Không thể không đẹp” để tư vấn cho phụ nữ tự tin với chính mình, phát trên sóng VTV3 và Đẹp Online, Đẹp TV, Facebook fanpage… là để làm marketing cho Angela và một số thương hiệu làm đẹp và thời trang khác. Đó là những ví dụ về content marketing.

Nói dài dòng văn tự, để cho dễ hiểu, xin lấy một ví dụ: Chẳng hạn, bạn làm marketig cho một của hàng bán hoa. Nếu bạn tìm cách để báo chí hoặc các phương tiện truyền thông khác ca ngợi hoa của bạn đẹp nhất, tươi nhất, và bạn là người cắm hoa nghệ thuật nhất, v.v… thì đó là bạn đang thực thi chiến lược truyền thông. Nhưng nếu bạn mở ra một trang web dạy cắm hoa, cách chọn hoa một cách ý nghĩa cho mỗi dịp trọng đại, kéo hàng chục ngàn người theo dõi, và đâu đó trên trang web, một cách tinh tế, có logo, địa chỉ cửa hàng hoa của bạn… thì đó là bạn đang làm content marketing đấy.

#LeBros #LeMedia #Elite_PR_School

Định nghĩa nhặt từ http://www.haravan.com/Content marketing là hình thức marketing khởi tạo và phát tán nội dung hữu ích, liên quan trực tiếp đến khách hàng mục tiêu nhằm mục đích gây sự chú ý, tạo tương tác và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng – đem lại lợi nhuận cho công ty.
Người viết: Lê Quốc Vinh – CEO Le Bros

Khi gia nhập một Startup, đừng hỏi mình ở vị trí nào và có vai trò gì

0
Hội Thảo Giải pháp Quản lý khách hàng với Phần mềm GetFly CRM
Hội Thảo Giải pháp Quản lý khách hàng với Phần mềm GetFly CRM

Bài học vỡ lòng dành cho ai muốn làm việc cho một Startup: “Khi bạn gia nhập một startup, đừng hỏi mình ở vị trí, vai trò hay chức vụ nào. Hãy chuẩn bị sẵn sàng làm việc ở bất cứ vai trò gì, miễn là nó giúp công ty phát triển”.

Thành viên hội đồng quản trị mới nhất của Paytm, Ruchi Shanghvi là người chẳng xa lạ gì với các công ty có tăng trưởng cao chót vót. Với sơ yếu lí lịch có kinh nghiệm làm việc tại Facebook và Dropbox, Sanghvi chính là một tay lão làng ở Thung lũng Silicon. Cô cũng khá quen thuộc với các vấn đề mà doanh nghiệp startup mắc phải.

Đó là lí do Sanghvi bỏ việc ở Dropbox, công ty cuối cùng của cô vào cuối năm 2013. “Tôi đã ở trong thế giới startup trên 10 năm, luôn phải làm việc 24/7 và bây giờ tôi muốn bước lùi lại để quan sát những điều xảy ra xung quanh mình”, cô chia sẻ.

“Hiện vẫn còn những bộ tộc ăn thịt người ngoài kia.” Cô nói thêm. Sanghvi mang theo nhiều thùng carton chứa gạo, thuốc lá… dùng để thanh toán cho những người cô đi nhờ trong chuyến du lịch khám phá bản thân sau khi nghỉ Dropbox.

Cô cũng tranh thủ phát hiện và trau dồi một vài sở thích trong chuyến du lịch của mình. “Tôi có thêm sở thích mới là lướt sóng trong thời gian tôi ở Bali, bắt đầu tập yoga đều đặn hơn và chơi tennis.” Cô nói. Về phần công việc, cô vẫn chưa quyết định sẽ làm gì tiếp theo. “Nếu biết thì tôi đã làm rồi. Đây đúng là một câu hỏi đánh đố. Dù vậy tôi khá hứng thú với hệ gen và đang học thêm kiến thức về lĩnh vực này, thậm chí tôi đã nộp đơn ứng tuyển vào một vài công ty. Nhưng khá khó để tìm vị trí thích hợp vì tôi không có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực sinh học phân tử. Tuy nhiên rốt cuộc tôi cũng đầu tư vào một vài công ty nghiên cứu hệ gen, chẳng hạn như Color.” Cô chia sẻ.

Ruchi Sanghvi trong chuyến du lịch đến sông Amazon của cô

Sanghvi là một người yêu thích mạo hiểm. Sau khi tốt nghiệp Đại học Carnegie Mellon năm 2004, cô lên đường đến New York để làm công việc xây dựng thuật toán cho một công ty đầu tư chứng khoán phái sinh. Làm việc 100 giờ mỗi tuần trong một văn phòng vuông vức nhỏ xíu và không còn mấy thời gian dành cho nhiều việc khác đã làm thay đổi suy nghĩ của cô. Cô quyết định chuyển đến phía Tây mà không có công việc gì trong tay. “Thật khó khi bỏ việc mà không có việc khác trong tay.” Cô nói. “Vì là sinh viên có thị thực, nếu mọi chuyện không ổn, tôi sẽ phải quay về.” May mắn thay mọi việc đều suôn sẻ, điểm dừng chân đầu tiên của cô là Oracle và sau đó là Facebook.

Khi gia nhập một Startup, đừng hỏi mình ở vị trí nào và có vai trò gì
Khi gia nhập một Startup, đừng hỏi mình ở vị trí nào và có vai trò gì

Gia nhập Facebook

Khi Sanghvi đến phỏng vấn ở Facebook vào mùa hè năm 2005, văn phòng của mạng xã hội này chỉ là một nơi tạm bợ, nằm trên một nhà hàng Trung Hoa tại Palo Alto với vách tường đầy hình vẽ graffiti. Một bảng đen ở lối vào đăng quảng cáo tuyển dụng vị trí kỹ sư. Có rất nhiều người làm việc trong văn phòng và đa số họ là sinh viên. Cô nhớ rằng rất khó phân biệt ai đang làm việc và ai không.

Nhưng điều không lẫn vào đâu được chính là nguồn năng lượng tràn ngập khắp căn phòng. Ngày phỏng vấn đó, cô đến văn phòng vào buổi trưa và người phỏng vấn cô vẫn chưa có mặt. Một giờ sau, cuối cùng Mark Zuckerberg cũng tới, anh ta phỏng vấn cô trong vòng một tiếng rưỡi. “Anh ấy (Mark) hỏi tôi những câu đại loại như nếu bạn có thể mang theo hai vật khi leo lên đỉnh Everest, chúng sẽ là vật gì. Nhưng việc của anh ấy là giúp tôi không ngồi không nhàm chán.” Cô nói. Người phỏng vấn thật sự của cô đến 3 giờ chiều mới tới.

Kết quả của cuộc phỏng vấn là Sanghvi gia nhập Facebook trong vị trí nữ kỹ sư đầu tiên của công ty, nhưng vị trí đó khiến cô bị mắc kẹt. “Tôi không phiền hà gì vì thực tế không có nhiều phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ để tìm nguồn cảm hứng.” Cô nói. “Tuy nhiên, người ta quên rằng, như tôi đã từng nói trong một bài viết về phát triển sự nghiệp, tôi đã kinh qua nhiều vị trí từ phát triển sản phẩm cho đến phó chủ tịch điều hành hoạt động tiếp thị và thậm chí là tuyển dụng.”

Sáng lập Cove

Sanghvi nghỉ việc ở Facebook năm 2010. Một phần là vì trực tiếp làm việc với các bộ phận sản phẩm, bảo vệ quyền riêng tư và các quy trình xử lý hồ sơ trong thời gian đầu khiến cô nhận ra niềm đam mê của mình bị lung lay bởi công việc nhàm chán. Một phần là vì ở tuổi 29 cô lo rằng mình đã quá trưởng thành và về sau, có thể cô không còn nghị lực hay đam mê như lúc này nữa.

“Tôi thấy hầu hết những người sáng lập Startup ở Thung lũng Silicon đều bắt đầu trong độ tuổi hai mươi”, cô nói. Sanghvi cùng chồng là Aditya Agarwal đồng sáng lập nên Cove vào đầu năm 2011. Công ty này đã được mua lại bởi Dropbox chỉ một năm sau đó và dĩ nhiên, bộ đôi này cũng chuyển việc theo cùng. Sau khi gia nhập Dropbox, Sanghvi trao đổi với tất cả mọi người trong doanh nghiệp về thách thức lớn nhất mà họ đang đối mặt.

Đó chính là tuyển dụng. Theo nhiều khía cạnh, cô chỉ ra rằng đây là một trong những bài học vỡ lòng cho những người muốn khởi nghiệp. “Khi bạn gia nhập một doanh nghiệp startup, đừng hỏi mình ở vị trí, vai trò hay chức vụ nào. Hãy chuẩn bị sẵn sàng làm việc ở bất cứ vai trò gì, miễn là nó giúp công ty phát triển.” Cô nói.

Kinh nghiệm cũng nhắc nhở cô rằng đừng bao giờ quan tâm đến bằng MBA. “Tôi nghĩ bạn học tập được nhiều nhất khi làm việc.” Cô nói “Ngoài ra, mọi việc còn phụ thuộc vào điều bạn muốn sau khi có được tấm bằng MBA. Nếu đó là thành lập một công ty hay giữ vai trò quản lý, tôi đều đã làm được. Sau khi làm việc ở hai công ty có chỉ số tăng trưởng cao vọt, tôi nghĩ kinh nghiệm là người thầy tốt nhất.”

Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình

0
Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình
Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình

Có tin đồn cho rằng trang thương mại điện tử chuyên về thời trang Zalora đang tìm đối tác tại Việt Nam để bán mình. Trả lời ICTnews qua điện thoại, đại diện truyền thông của Zalora tại Việt Nam cho biết tin đồn Zalora đang tìm đối tác để bán lại mảng kinh doanh của mình ở thị trường này là không chính xác.

Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình
Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình

Tin đồn này xuất hiện dựa trên việc Foodpanda mới đây được bán cho Vietnammm, với lý do nhà đầu tư gặp khó khăn tài chính hoặc do chuyển hướng đầu tư. Nhà đầu tư chính cho Foodpanda là Rocket Internet, đồng thời cũng là nhà đầu tư của Zalora và Lazada. Thêm nữa, một dự án khác của Rocket Internet tại Việt Nam là Easy Taxi cũng đã ngưng hoạt động đầu năm nay. Từ đó xuất hiện tin đồn cho rằng Zalora sẽ tiếp bước Foodpanda, sẽ được bán lại cho đối tác khác.

Tuy vậy, đại diện truyền thông của Zalora tại Việt Nam cho rằng Rocket Internet chỉ là một trong hai nhà đầu tư chính của Zalora (nên sẽ không có toàn quyền quyết định số phận Zalora). Ngoài Rocket Internet, trang thương mại điện tử này còn được rót vốn bởi Kinnevik, nhà đầu tư từ Thụy Điển và nhiều nhà đầu tư khác từ Mỹ. Đại diện Zalora không cho biết Rocket Internet hay Kinnevik nắm nhiều cổ phiếu hơn tại Zalora.

Zalora hiện nay được điều hành bởi tập đoàn Global Fashion Group (GFG) – sở hữu 5 trang thương mại điện tử chuyên về thời trang, gồm Zalora (Đông Nam Á, Úc, Hồng Kông, Đài Loan), Jabong (Ấn Độ),  Dafiti (châu Mỹ Latin), Lamoda (Nga), và Namshi (Trung Đông). Theo thông tin từ trang Forbes dẫn báo cáo tài chính năm 2014 của Rocket Internet cho biết nhà đầu tư đến từ Đức này nắm 23% cổ phần tại GFG, trong khi Kinnevik là nhà đầu tư lớn nhất – 26% cổ phần, còn lại của các nhà đầu tư khác. Chủ tịch và phó chủ tịch GFG hiện nay đều là CEO của hai nhà đầu tư lớn nhất, tức Rocket và Kinnevik.

Cần hiểu rằng Kinnevik cũng nắm đến 24% cổ phần của Rocket Internet, theo một bài viết cuối năm 2014 của trang Tech.eu. Nghĩa là, ngoài việc cùng với Rocket đầu tư vào GFG (chủ của Zalora), thì Kinnevik cũng có cổ phần lớn ở chính Rocket Internet.

Báo cáo tài chính năm 2014 của Rocket Internet cho thấy sự tăng trưởng rất nhanh của cả Lazada lẫn Zalora so với năm trước đó (2013), tuy vậy cả hai trang này này đều chưa mang lợi nhuận về cho GFG.

Mới đây, khoảng tháng 7/2015, cả Kinnevik lẫn Rocket Internet đã quyết định cùng nhau rót thêm 167 triệu USD vào GFG, nhằm gia tăng năng lực của GFG bên cạnh việc đẩy mạnh truyền thông và phát triển sản phẩm, cùng với việc xây dựng hạ tầng phục vụ cho các sản phẩm của GFG trên nhiều khu vực như châu Mỹ Latin, Trung Đông, Nga, Ấn Độ, Đông Nam Á, Úc.

Như vậy có thể thấy cam kết của Rocket Internet lẫn Kinnevik vào GFG – công ty mẹ của Zalora, và rõ ràng các trang của GFG mặc dù chưa mang lợi nhuận nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng. Do đó, khả năng nếu có những thay đổi ở Zalora thì đó là vấn đề chiến lược chứ không hẳn vì thiếu vốn.

Bên cạnh đó, cần hiểu rằng Zalora là sản phẩm của GFG, do Kinnevik nắm cổ phần lớn và Rocket Internet có lượng cổ phần đứng thứ hai. Trong khi đó, Easy Taxi và Foodpanda – hai sản phẩm đã ngưng hoạt động tại Việt Nam – thì do Rocket Internet đầu tư chính bên cạnh các nhà đầu tư khác.

Sau Foodpanda, Zalora Việt Nam cũng đang bị rao bán?

0
4 đứa con của Rocket Internet tại Việt Nam gồm: Lazada, Zalora, Foodpanda, Easy Taxi
4 đứa con của Rocket Internet tại Việt Nam gồm: Lazada, Zalora, Foodpanda, Easy Taxi

Việc lần lượt Easy Taxi rồi đến Foodpanda đóng cửa tại Việt Nam có phải là một động thái rút chân khỏi thị trường của đại gia công nghệ đến từ Đức?

Rocket Internet là một trong những công ty chuyên về xây dựng nền tảng số 1 thế giới. Bằng cách chuyên đi sao chép các startup thành công tại Mỹ và mang ra những quốc gia khác, Rocket Internet đã gặt hái được không ít thành công.

Chẳng hạn, dịch vụ Easy Taxi của hãng thống trị ở châu Mỹ La Tinh. Các nền tảng bán hàng online thì đang thống trị ở châu Âu và một số quốc gia châu Á.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, Rocket Internet đã không gặp may. Hồi đầu năm, Easy Taxi đã lặng lẽ rút khỏi Việt Nam. Dù thời gian đầu, Easy Taxi tuyên bố sẽ chi ra 1 triệu USD để lôi kéo người dùng, nhưng sau 1 năm không cạnh tranh nổi với Uber và Grab Taxi, Easy Taxi đã phải đóng cửa.

Tiếp bước Easy Taxi, người anh em Foodpanda cũng phải bán mình. Trước khi thông tin Foodpanda bị bán cho Vietnammm đầy ắp trên mặt báo, giới công nghệ trong nước đã kháo nhau thông tin này từ khá lâu.

Một số đại diện công ty công nghệ cho biết, Foodpanda đã gửi lời chào bán tới những công ty đang sở hữu các website cung cấp dịch vụ gọi món giống Foodpanda.

Kết quả là Foodpanda về tay Vietnammm. Dù giá trị thương vụ không được công bố, nhưng hành động “bỏ của chạy lấy người” này của Foodpanda chắc chắn sẽ không được định giá cao. Nhiều chuyên gia cho rằng, mức giá của thương vụ này chỉ rơi vào khoảng 300.000 – 500.000 USD.

Và đó chưa phải là tất cả. Trong những ngày qua, đã có những thông tin về việc Zalora, nền tảng thương mại điện tử chuyên bán hàng thời trang của Rocket Internet cũng chuẩn bị rời khỏi Việt Nam.

Tin đồn cho biết, Hiện tại Zalora cũng đang tìm kiếm đối tác để bán lại bộ phận của mình tại Việt Nam, tương tự như cách Foodpanda đã làm.

Nếu Zalora cũng tiếp bước rời Việt Nam, thị trường sẽ chỉ còn một đại diện duy nhất của Rocket Internet, đó là Lazada.

4 đứa con của Rocket Internet tại Việt Nam gồm: Lazada, Zalora, Foodpanda, Easy Taxi
4 đứa con của Rocket Internet tại Việt Nam gồm: Lazada, Zalora, Foodpanda, Easy Taxi

Trong 4 cái tên tại Việt Nam, Lazada là cái tên lớn nhất cả về quy mô đầu tư lẫn sản phẩm phục vụ, với đầy đủ các loại mặt hàng. Đây là một trong ít các nền tảng thương mại điện tử được đánh giá tốt tại Việt Nam.

Vì vậy, khả năng Lazada cũng bị bán nốt sẽ khó xảy ra hơn. Một kịch bản hợp lý hơn đó là Rocket Internet bán bớt những mảng ít tiềm năng để tập trung vào con át chủ bài Lazada.

Mặc dù vậy, Lazada tốt không có nghĩa là nó đang sinh lời. Hầu hết các nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam đều chỉ được đánh giá ở mức độ tiềm năng và không mang về lợi nhuận. Có doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cũng đã nhảy vào lĩnh vực này nhưng sau 2 năm phát triển, kết quả mang về cũng rất hạn chế.

Các chuyên gia nhận định, TMĐT tại Việt Nam là cuộc chơi dài hơi, đòi hỏi đầu tư ít nhất từ 5 đến 7 năm mới nghĩ tới chuyện hoàn vốn. Điều này trái với nguyên tắc đầu tư ồ ạt, đánh nhanh thắng nhanh của Rocket Internet.

Sự ra đi của 2, và có thể sắp tới là 3 cái tên của hãng công nghệ Đức cho thấy chiến lược của họ đang không phù hợp với thị trường VIệt Nam. Hiện tại, giá cổ phiếu của Rocket Internet đã giảm tới 40% trong vòng 1 năm qua, cùng với đó là sự mất kiên nhẫn của giới đầu tư.

>> Zalora Việt Nam phủ nhận tin đồn tự rao bán mình

Theo CafeF

GetFly CRM – Giải pháp Quản lý bán hàng hiệu quả

0

Nếu bạn đang:
+ Gặp KHÓ KHĂN khi bán hàng
+ Không biết cách TIẾP CẬN khách hàng thế nào cho hiệu quả
+ Không có QUY TRÌNH BÁN HÀNG rõ ràng cho nhân viên
+ Không nắm được LỊCH SỬ GIAO DỊCH với khách hàng
+ Không quản lý được HIỆU QUẢ của đội kinh doanh

Giải pháp Quản lý bán hàng hiệu quả với phần mềm GetFly CRM giúp bạn trả lời toàn bộ các câu hỏi trên một cách dễ dàng, giúp bạn quản lý và nâng cao hiệu quả đội ngũ bán hàng của bạn.

Bạn có MUỐN không?

1. Kênh bán hàng – vượt qua sự từ chối.

Chốt Sale được thì thật tuyệt vời.
Nếu có thể mua hơn, hãy chuyển khách sang Kênh Up-Sales, tối đa lợi nhuận.
Nếu không mua, chuyển sang Kênh Down-Sales, bán sản phẩm tốt hơn tạo quan hệ với khách.
Nếu khách hàng thẳng thừng từ chối. Thất bại chăng? bình tĩnh, đặt lại thời gian, khách hàng chưa bao giờ thoát khỏi thiên la địa võng của bạn.

2. Tạo động lực cho nhân viên bán hàng.

Lịch làm việc rõ ràng, email tự động tóm tắt công việc hàng ngày.
Theo dõi hiệu của công việc bản thân, so sánh với người giỏi nhất.
Tối ưu kết quả bằng việc phân tích dữ liệu tổng hợp trực quan.

3. Quy trình bán hành tiên tiến.

Tự thiết lập quản lý quy trình của bạn.
Thiết lập Email tự động trả lời khách hàng để tăng sự gắn kết với khách hàng.
Thiết lập SMS Marketing gửi đi thông tin trả lời phản hồi cho khác hàng

Bạn có MUỐN Giải pháp Quản lý bán hàng hiệu quả với phần mềm GetFly CRM hay không? Nếu muốn thì xem tiếp video sau:

STAY CONNECTED

5,668FansLike
990FollowersFollow
1,070FollowersFollow
1,429SubscribersSubscribe